• :
  • :
CHÀO MỪNG BẠN ĐẾN VỚI CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỦA TRUNG TÂM Y TẾ HUYỆN GIA VIỄN

Hậu quả của việc mất cân bằng giới tính khi sinh

 

Hiện nay, mất cân bằng giới tính khi sinh (MCBGTKS) tại Việt Nam đang tăng nhanh, đã ở mức nghiêm trọng, nếu không có những biện pháp mạnh mẽ, can thiệp kịp thời sẽ gây nên hệ lụy khó lường, ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc sống của từng gia đình và cộng đồng xã hội.

Học sinh trường mầm non Thị Trấn Me, Gia Viễn, Ninh Bình

Ở nước ta vấn đề MCBGTKS diễn ra muộn nhưng tốc độ gia tăng nhanh. Các cuộc điều tra dân số hàng năm đã phản ánh xu hướng tăng nhanh của tỷ số giới tính khi sinh (TSGTKS). Ở Việt Nam TSGTKS năm 2006 là 110/100; năm 2008 là 112,1/100; năm 2010 là 111,2/100 và liên tục tăng đến năm 2018 là 115,1/100. Tại huyện Gia Viễn, TSGTKS năm 2016 là 115/100, năm 2018 là 119/100, ước tính năm 2019 là 113/100. Theo các chuyên gia trong lĩnh vực dân số, nếu tình trạng này vẫn tiếp tục gia tăng, dự báo đến năm 2050 Việt Nam sẽ có khoảng từ 2,3 - 4,3 triệu nam giới không lấy được vợ.

Việt Nam là một quốc gia châu Á có nền văn hoá truyền thống, trong đó tư tưởng Nho giáo đóng vai trò chủ đạo. Với tư tưởng trọng nam kinh nữ, mong có con trai để "nối dõi tông đường", để "đảm nhận công việc thờ cúng tổ tiên ông bà"… Bên cạnh đó, do sự tiến bộ của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ siêu âm giúp chẩn đoán và và phát hiện giới tính thai nhi.

Tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh dẫn tới hậu quả nghiêm trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, ảnh hưởng tới cuộc sống của mỗi gia đình và toàn xã hội.

Việc gia tăng TSGTKS không chỉ khiến nam giới khó lấy vợ, nhiều người kết hôn muộn, hoặc không thể kết hôn, làm thay đổi cấu trúc dân số dẫn đến tan vỡ cấu trúc gia đình. Bên cạnh đó mất cân bằng giới tính khi sinh còn có thể dẫn đến bất ổn về an ninh trật tự, thay đổi cơ cấu kinh tế, gia tăng bạo lực gia đình, bất bình đẳng giới, các tệ nạn xã hội và gia tăng tệ nạn phá thai.

Để hạn chế tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành các văn bản pháp luật như: trong Điều 7 Pháp lệnh Dân số 2003 quy định nghiêm cấm lựa chọn giới tính thai nhi dưới mọi hình thức; Điều 10 Nghị định số 104/2003/NĐ-CP ngày 16/9/2003 của Chính phủ quy định nghiêm cấm các hành vi lựa chọn giới tính thai nhi; Điều 9 Nghị định số 114/2006/NĐ-CP ngày 03/10/2006 quy định xử phạt hành chính hành vi lựa chọn giới tính thai nhi; Luật Bình Đẳng giới ngày 29/11/2006, Điều 40, Điểm 7 Các hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực y tế bao gồm: Khoản b Lựa chọn giới tính thai nhi dưới mọi hình thức hoặc xúi giục, ép buộc người khác phá thai vì giới tính của thai nhi; Văn bản số 3121/BYT-BMTE ngày 21/5/2009 của Bộ Y tế về nghiêm cấm lạm dụng kỹ thuật cao để lựa chọn giới tính khi sinh. Bên cạnh đó, các cơ quan chức năng tiến hành việc kiểm tra các cơ sở y tế công lập, các cơ sở y tế tư nhân, đặc biệt là các cơ sở siêu âm, các phòng khám sản phụ khoa để phát hiện và xử lý nghiêm những hành vi chẩn đoán giới tính thai nhi, phá thai vì lý do giới tính. Cùng với những cơ chế, chính sách của Đảng và Nhà nước thì việc đẩy mạnh công tác truyền thông giáo dục để nâng cao nhận thức, chuyển đổi hành vi nhằm kiểm soát tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh.

Vì vậy để giảm thiểu tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh cần có sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền, sự phối kết hợp chặt chẽ của các ban, ngành, đoàn thể và tổ chức xã hội, góp phần quan trọng vào việc giảm thiểu tình trạng MCBGTKS, ổn định cơ cấu và nâng cao chất lượng dân số.

 

                                                            Vũ Thị Hà Thu

 

Tác giả: Vũ Thị Hà Thu